|
Đặc
tính và mục đích quảng cáo trên truyền hình |
Trong trường hợp
của quảng cáo trên truyền hình chẳng hạn, mô hình sáu giai
đoạn của Wilbur Schramm về truyền thông mà chúng ta đã đề
cập đến trong chương trước có thể biểu diễn như sau:
1) Nguồn tin
(Source) , người thông báo (Communicator) là chủ quảng
cáo tức người cậy quảng cáo (Sponsor, Advertiser);
2) Hệ thống thu
tín hiệu (Encoder) bao gồm hãng quảng cáo, hãng làm phim
quảng cáo (Advertising Agency , Filmmaker)
3) Thông điệp
(Message) không gì khác hơn là phim quảng cáo
(Promotional film hay TVCF)
4) Hệ thống
giải tín hiệu (Decoder) là đài truyền hình (Television
company) , máy truyền hình (Television post)
5) Đích nhắm
(Destination) là khán thính giả truyền hình (Audience)
và người tiêu thụ sản phẩm (Consumer).
6) Hiệu quả
(Effects) Thái độ (Attitudes) của người nhận tin nghĩa
là mua hàng hay không, nói tốt hay nói xấu về món hàng với
kẻ khác. Tất cả những điều đó sẽ được xem như là tin tức
vọng lại (Feedback) về phía người phát tin dưới hình thức
điều tra về doanh số hay ý kiến của khán thính giả.
Sugaya và Nakamura
(2000) đã dựa trên mô hình phóng thanh truyền hình Bắc Mỹ để
vẽ sơ đồ sau đây nói về sự phân vai (stake holding) của
những bên liên hệ trong quá trình quảng cáo bằng môi thể.
Chiều các mũi tên xin được đọc theo thứ tự từ trên xuống
dưới như sau:
1) Người tiêu thụ
mua sản phẩm và dịch vụ của chủ quảng cáo.
2) Chủ quảng cáo
trả tiền mướn khâu giờ trên đài và trả tiền chế tác tiết mục
cho đài phóng thanh truyền hình.
3) Đài trả lui
tiền hoa hồng cho hãng quảng cáo.
4) Hãng quảng cáo
đề nghị phương án làm việc cho chủ nhân quảng cáo.
5) Nếu đồng ý, chủ
quảng cáo nhờ hãng quảng cáo thi hành phương án.
6) Hãng quảng cáo thương lượng với hãng sáng
tác để chế tác phim và hãng
chuyên môn về môi
thể để mua giờ phát sóng.Hãng sau này đã giữ độc quyền về
các khâu giờ.
7) Đài trả tiền
huê hồng cho hãng chuyên môn môi thể đã bán khâu giờ phát
sóng hộ cho họ.
8) Đài phát sóng
phóng ảnh đến khán thính giả, đồng thời là giới tiêu thụ.
9) Chủ quảng cáo
nhờ hãng điều tra xem xét hiệu quả quảng cáo và hiệu quả
thương mại.
10) Hãng quảng cáo
nhờ hãng điều tra xem hiệu quả công việc mình làm.
11) Đài phóng ảnh
nhờ hãng điều tra hiệu quả của công việc mình làm.
12) Hãng điều tra
thu tín hiệu máy quan trắc tự động hay gặp gỡ người tiêu thụ
để xúc tiến điều tra.
Xin đối chiếu các
tiết mục trên với đồ biểu sau đây :

Quảng cáo là hình
thức thông tin với
mục đích thuyết
phục
và
nói theo F. Balle (Les Médias, 2000) nó là " con đẻ
của tuyên truyền nhưng không phục vụ người cai trị mà phục
vụ con buôn, vận dụng những thủ pháp từ quyến rũ đến lập
luận". Ông đã dẫn chứng bằng mô hình về thuyết phục đề nghị
bởi Ph. Breton (1996) (có sữa đổi đôi chút bởi thuật giả)
như sau :

Quảng cáo đã
trưởng thành song song với những phương tiện truyền thông
đại chúng từ những năm 1930 và nương dựa lẫn nhau để đi đến
chỗ thành lập khoa học quảng cáo, môn học có tính cách "
nhân văn " (humanities) và đồng thời, môn học " đa khoa "
(multidisciplinary) vì chia sẻ những điểm chung với các
ngành khác như khoa kỹ thuật viễn thông, kinh doanh, tâm lý
và xã hội học...
Quảng cáo truyền
hình không những sử dụng phương tiện thuyết phục là ngôn ngữ
mà còn bằng hình ảnh và những yếu tố tín hiệu khác...Chủ yếu
vẫn là hình ảnh. Từ thời Phục Hưng, nhà phát minh và nhà
nghệ thuật đa tài người Ý Leonard de Vinci đã đánh giá thị
giác là người anh cả của ngũ quan. Người Việt Nam cũng coi
con mắt như " cửa sổ của tâm hồn ". Thính giác có hiệu năng
không kém nhưng chỉ đóng vai trò thứ yếu, bổ túc cho đôi mắt.
Chính vì thế mà truyền hình, môi thể truyền thông khai triển
được khả năng của cả hai giác quan nói trên, đạt hiệu năng
vượt tất cả các phương tiện khác, được dùng nhiều nhất trong
ngành quảng cáo thương mại.
*
Quảng cáo thương mại truyền hình, trong các
quốc gia Âu Mỹ thường được gọi tắt là TVCM, giản lược từ chữ
Anh Television Commercial Message mà chúng tôi mạo muội gọi
là " thương điệp truyền hình". Một thương điệp như thế bao
gồm ba yếu tố : hình ảnh, ngôn ngữ, âm nhạc, và là một thủ
pháp truyền đạt đại chúng vì nó được gửi đến đối
tượng bằng những
môi thể truyền thông hàng loạt ( người Trung Quốc hiện đại
gọi là
truyền môi
) như báo chí,
truyền thanh và truyền hình.
Quảng cáo truyền
hình đã chính thức ra đời tại Mỹ ngày 1/7/1941 trên đài WNBT
ở New York, đúng 8 giờ sáng qua thương điệp (CM hay
commercial message ) cửa hàng đồng hồ Bulova, sau khi quảng
cáo thương mại trên truyền hình được Ủy ban Thông Tin Liên
Bang (FCC hay Federal Communication Commission) chấp nhận
trên nguyên tắc. Kể từ tháng 5/1942, có đến 10 đài phát hình
thương điệp và thương điệp đầu tiên được phóng đi trên mạng
truyền hình (Network) là của hãng dao cạo râu an toàn
Gillette xen kẽ giữa trận đấu giải vô địch quyền Anh của võ
sĩ Joe Louis ở Yankees Stadium (19/6/1946). Khoảng năm 1952,
ở Mỹ đã có đến 109 đài truyền hình thương mại trên 65 đô thị
phát sóng đến 17 triệu nóc gia.
Ở Nhật, thương
điệp truyền hình đầu tiên được phóng từ đài NTV (Nippon
Television) ngày 28/8/1953 lúc 12 giờ trưa để giới thiệu
đồng hồ Seiko của hãng Hattori Tokei (nay là Seikosha, gọi
tắt là Seiko) qua bản thông tin giờ giấc (Seikosha Báo Giờ
Ngọ) , hai năm sau khi trên làn sóng truyền thanh Radio
Nagoya, kem đánh răng Sumoka giới thiệu sản phẩm của mình.
(1/9/1951).
Theo Th. Fabre, ở
Pháp, quảng cáo truyền hình chỉ mới đến với khán thính giả
năm 1968 trên đài số một (TF1) nhưng đã phát triển hết sức
nhanh chóng để đến năm 1990, chi phí quảng cáo truyền hình
chiếm 25% tổng số món tiền dùng vào quảng cáo..
Từ buổi đầu trở
đi, thương điệp trên truyền hình đã biến chuyển qua nhiều
giai đoạn. Từ đen trắng chuyển qua màu, từ đặt trọng tâm vào
hoạt hình đến lúc đặt trọng tâm vào ca nhạc hay diễn viên
tài tử, nó đã bước vào thời đại thương điệp quốc tế và điện
tử với các đại hội quốc tế ngành quảng cáo, với những phương
tiện hiện đại như bảng thu hình theo số trị (VTR-D) và
phương pháp cấu tạo hình ảnh bằng vi tính (Computer Graphics
hay (CG), các lối truyền hình bằng đường giây cáp (CATV),
bằng vệ tinh (BS) hoặc đa môi thể (Multimedia) trước khi
bước đến quảng cáo trên mạng (Web Advertising). .
Để định nghĩa Thương Điệp Truyền Hình ta có
thể xem nó như một " thông tri truyền đạt tin tức nhằm
thuyết phục, bằng phương tiện truyền hình đại chúng cho một
mục đích thương mại trong một khoảng thời
gian ngắn". Thương
điệp nầy là công cụ quảng cáo (Advertisement) phát xuất từ
một hoạt động quảng cáo (Advertising), có mục đích quảng bá
(Propaganda) nhưng không phải là tuyên truyền chính trị
(Political Propaganda) dầu nó có thể trở thành như thế ngoài
ý muốn. Như đã nói, cũng cần phân biệt quảng cáo truyền hình
với Giao Dịch Xí Nghiệp (Public Relations), một hình thức
quảng cáo qua sự giao tiếp giữa người với người, cũng như
cần phân biệt nó với Quảng Báo Công Ích (Advertising Public
Utility), loại quảng cáo với mục đích bá cáo đường lối, chủ
trương của chính phủ vì lợi ích công cộng (khuyến khích dân
đi bầu cử, hạn chế sinh đẻ để chống nạn nhân mãn...). Cũng
nên tách nó ra các hình thức quảng cáo tại địa điểm bán hàng
(Point of Sales hay POS), nơi mà người bán hàng tiếp xúc
trực tiếp với người mua. Quảng cáo truyền hình nằm trong
lĩnh vực Quảng Cáo Tốn Tiền (Paid Publicity) vì muốn giữ giờ
phóng ảnh (Time On Air) trên đài, người cậy quảng cáo phải
trả một món tiền nào đó, nhiều khi rất cao. Quảng Cáo Không
Mất Tiền (Non Paid Publicity) là những lời quảng cáo không
thông qua môi thể đại chúng, không tốn kém, như mách nước,
chỉ dẫn hay đồn đại...
Như tất cả mọi
hình thức quảng cáo khác, quảng cáo truyền hình có bốn chức
năng :
1. Chức năng
kinh tế
: Quảng cáo truyền hình
thông tri, báo
cáo
với người xem về sự ra đời hoặc sự có mặt của một mặt hàng.
Trong thời đại sinh sản hàng loạt, nó thôi thúc sự tiêu thụ
của khách hàng vốn chuộng những sản phẩm mới. Nó
khai
thác những nhu cầu tiềm ẩn
của người tiêu thụ, lập lại thế quân bình giữa cung và cầu
cũng như góp phần vào việc phân phối lợi tức trong xã hội.
Sản phẩm ra càng nhiều thì giá thành càng rẻ và người mua có
cơ hội mua rẻ và nâng cao chất lượng mức sinh hoạt của mình
(standard of living).
Nhược điểm của nó
là thúc đẩy người ta ăn tiêu hoang phí, lôi cuốn con người
bắt chước nhau tiêu thụ theo thời trang, khơi gợi những lối
tiêu thụ kiểu bốc đồng, nghĩa là mua mà không nghĩ trước
nghĩ sau. Nó thường bị xem như là một công cụ của chế độ tư
bản chỉ để tạo ra hố thẳm giữa kẻ giàu và người nghèo.
2. Chức năng thương mại:
Quảng cáo truyền hình thông tri với xã hội
vai trò của xí nghiệp,
đường lối hoạt động của nó. Quảng cáo cũng đốc thúc xí
nghiệp góp phần vào việc phục vụ khách hàng và xây dựng
xã hội. Nó
khuyến
khích xí nghiệp không ngừng cải tiến
hoạt động của mình. Nó tạo danh tiếng cho nhãn hiệu (Brand)
và nâng cao tinh thần của nhân viên (Inner Moral Up).
Điểm yếu của quảng
cáo trong phạm vi này là nó gây ra khoảng cách giữa các xí
nghiệp, làm chi phí quảng cáo tăng vọt (hãng mỹ phẩm Estee
Lauder tiêu 30% tiền bán hàng chỉ riêng vào việc quảng cáo),
làm cho các mặt hàng đoản mệnh (shorten product life cycle),
vừa mới ra lò đã thành lỗi thời vì có mặt hàng mới ra ngay
sau đó. Có khi nó còn làm hình ảnh xí nghiệp tệ hại đi vì
những lời quảng cáo bôi bác lẫn nhau.
3. Chức năng xã
hội
:
Quảng cáo nói chung và quảng cáo truyền hình nói riêng
giáo dục người tiêu thụ
(advertising educates consumers) .Quảng cáo truyền hình mở
rộng tri thức, nâng cao mức độ suy nghĩ, phán đoán của người
tiêu thụ, dạy người ta về cách dùng các mặt hàng và giúp
người ta quyết định mua món hàng nào. Nó vừa là tư liệu của
nội dung truyền thông đại chúng, vừa là lý do để người tiêu
thụ bắt đầu biết quan tâm tới món hàng mình tiêu dùng. Nó
khiến cho người ta đòi hỏi những mặt hàng ra đời phải đúng
theo qui trình và yêu cầu của xã hội. Nó giúp người ta tiết
kiệm được thời giờ tìm hiểu (reduce search time) vì giúp họ
biết ngay ưu điểm của một mặt hàng.
Tuy nhiên, những
kẻ chống đối nó cho rằng quảng cáo chỉ đưa ra những tin tức
hời hợt, nhiều từ hoa (rhetoric ) hơn là sự thực. Quảng cáo
truyền hình lại xô đẩy con người thờ phụng tiền bạc và mê
luyến nhu cầu vật chất, phá hoại môi sinh vì tiêu phí không
ngừng tài nguyên thiên nhiên, khơi gợi lòng tham và khiến
người ta chỉ nghĩ đến những lạc thú nhất thời, không thiết
gì đến ý nghĩa của cố gắng và lao động.
4. Chức năng văn hóa
:
Quảng cáo truyền hình
đề nghị một nếp sống mới.
Qua nó, chúng ta bắt mạch được hướng đi của xã hội. Nó là đề
tài nói chuyện bất tận của quần chúng và nhờ nó, những hoạt
động văn hóa, xã hội có phương tiện vật chất để thực hiện.
Nó khai thác những đòi hỏi cao cả của con người. Theo nhà
kinh tế học A.H. Maslow, con người ta sau khi đã no cơm ấm
áo, có an ninh, sức khỏe, còn cần cả tinh yêu, lòng tự hào
(Esteem Needs) về những thành đạt trong đời
(Self-Actualization Needs) và có nhu cầu cống hiến cho xã
hội. Dĩ nhiên, Maslow đề cập đến
nhu cầu nhân bản
chứ không phải nói riêng về nhu cầu tiêu thụ.
Thế nhưng, được hướng dẫn bởi những nhu
cầu đó, con người
có thể tìm đến những sản phẩm hay dịch vụ để thỏa mãn mục
đích mình đòi hỏi.
Điều đó không ngăn
việc quảng cáo tạo nên một thứ
văn hóa vật chất,
hời hợt, thiếu chất lượng nếu không nói là ích kỷ, tập trung
vào cá nhân và xa rời những lợi ích công cộng, gây hỗn loạn
và phá hoại những giá trị truyền thống tốt đẹp. Những ngày
lễ Giáng Sinh, Tạ Ơn, Phục Sinh chỉ là cơ hội cho con buôn
lợi dụng chào hàng. Những Ngày Cho Ba (Fathers?Day), Ngày
Cho Má (Mothers?Day) có khác nào công cụ thương mại của các
tiệm bách hóa. Về phương diện văn hóa, quảng cáo nói chung
và quảng cáo truyền hình nói riêng còn tạo ra những hình ảnh
rập khuôn (stereotype) về người đàn bà, về người lớn tuổi,
thường thường không tốt đẹp cho lắm Hình ảnh nguời đàn bà là
kẻ coi nhà, nấu bếp, trông con, hay là đối tượng của những
thèm muốn của thể xác trong khi phụ nữ ngày nay xốc vác
nhiều trọng trách xã hội. Người già trong quảng cáo thường
là những kẻ đau ốm, tật nguyền, trong khi trên thực tế, có
những ông bà lão khỏe mạnh, đầy sức lực và năng nổ.
Quảng cáo còn bị
buộc tội là
hung bạo.
Để thu hút sự chú ý của quần chúng, người làm quảng cáo có
lúc không ngần ngại dùng những hình ảnh dữ dội và khiêu
khích, nhiều khi gây xúc động mạnh nhất là đối với trẻ em.
Điểm chung của
quảng cáo truyền hình với các hình thức quảng cáo khác là
trong ngắn hạn nó cũng nhằm thực hiện
quá trình AIDMA
nghĩa là trình tự chú ý (Attention),
để tâm (Interest),
thèm muốn (Desire),
ghi nhớ (Memory)
và cuối cùng dẫn người tiêu thụ tới hành động (Action)mua
hàng. Trong dài hạn, nó có nhiệm vụ thực hiện quá trình thứ
hai, gọi tắt là
AMTUL
gồm những yếu tố như sau : nhận thức
(Awareness),
ký ức (Memory),
dùng thử (Trial),
sử dụng (Usage),
trung thành (
Loyalty).
Một quảng cáo thành công khi nó đưa người tiêu thụ đi theo
đường hướng mong muốn của người cậy quảng cáo nghĩa
là làm sao giữ được khách hàng (Customer
Retention)
theo tuần tự biến thiên của các loại khách : khách thăm dò
(Prospect),
khách dùng thử (Trialer),
khách sử dụng (User),
khách quen (Customer),
khách đặc biệt (Client),
khách ủng hộ (Supporter),
khách biện hộ (Advocate).
Tuy vậy, việc sử dụng phương tiện truyền hình
để quảng cáo thường
thường là kết quả của sự tính toán của người
trách nhiệm quảng cáo về chiến lược môi thể (Media
Strategy).Dùng môi thể nào hay
phối hợp,
hiệp đồng các môi thể
(Media Mix) đặc biệt thế nào dể đạt được hiệu
quả tối đa. Cho dến nay, số liệu thống kê vẫn cho ta thấy
quảng cáo truyền hình giữ vai trò then chốt trong các hình
thức quảng cáo
. SO SÁNH
HIỆU NĂNG TRUYỀN THÔNG CỦA TRUYỀN HÌNH VỚI CÁC PHƯƠNG TIỆN
KHÁC
Quảng cáo không
chỉ được thực hiện bằng truyền hình mà còn thực hiện vói sự
giúp sức của nhiều môi thể (Media) khác, có tính chất đại
chúng (Mass Media) hay phi đại chúng:
- Quảng cáo do
những người
không chuyên môn
như truyền miệng như mách nước, chỉ dẫn, đồn đãi trong gia
đình, giữa thân hữu, thày trò.
- Quảng cáo bằng
cách gói hàng (packaging),
thương phẩm tự
quảng cáo
cho nó.
- Quảng cáo do
những
người làm tiếp thị
(Sales Promotion ou SP) qua những phương thức như thư tín
trực tiếp (Direct Mail hay DM), truyền đơn thương mại
(Advertising Leaflet),bích chương dán ngoài trời (Outdoor
Poster) hay các tấm biển (Billboards) trên sân vận động ,
trên bến xe hay trong các phương tiện giao thông (
Transportation Facilities) như trên xe điện, xe buýt, cạnh
các quầy bày hàng (Point Of Purchase hay POP), bằng cách in
trong các tập danh mục điện thoại (Telephone Directory) hay
trong các phòng triển lãm (Exhibition, Show Room).
- Quảng cáo cá
nhân bằng những môi thể điện tử như trò chơi điện tử
(Games), môi thể mới như truyền hình bằng mạng dây cáp (CATV),
truyền hình vệ tinh (Broadcasting Satellite), mạng Internet
(Internet Site).
- Quảng cáo đại
chúng bằng 4 môi thể truyền thông đại chúng : báo chí
(Newspapers), tạp chí (Magazines), truyền thanh (Radio) và
truyền hình bằng sóng điện (Television).
M.K. Baker (trong tập sách viết chung với
Monye, Sylvester) đã so sánh điểm mạnh và điểm yếu giữa
truyền hình và các môi thể khác qua bảng tóm tắt sau đây
M.K. Baker (trong
tập sách viết chung với Monye, Sylvester) đã so sánh điểm
mạnh và điểm yếu giữa truyền hình và các môi thể khác qua
bảng tóm tắt sau đây:
Đồ biểu 2.3:
Bảng so sánh ưu khuyết điểm của các môi thể
quảng cáo
|
|
|
Môi thể |
Ưu điểm |
Khuyết điểm |
|
Nhật báo |
-Địa bàn rộng
-Bao trùm nhiều lớp người
-Giá rẻ
-Co giãn
-Tạo phong trào nhanh chóng
-Tiêu thụ nhanh |
-Không lâu dài
-Không bộc lộ ra ngoài
-Không gây ấn tượng mạnh vì trình
bày kém mỹ thuật
-Không lôi cuốn |
|
Tạp chí |
-Trình bày mỹ thuật gợi chú ý
-Đối tượng độc giả rõ ràng
-Trình độ người đọc cao
-Giữ được lâu dài
-Có thể đưa ra tin
tức có chất lượng |
-Mất nhiều thời giờ để gây phong
trào
-Thiên về hình ảnh
-Mất thời giờ để tạo ấn tượng
-Giá cả trung
trung |
|
Truyền hình |
-Uyển chuyển vì dùng được cả hình
ảnh, chữ viết, âm thanh, động tác
-Được trọng vọng
-Tầm phóng xa
-Bao trùm phạm vi lớn
-Giá tương đối thì
rẻ |
-Cần lập đi lập lại
-Không dùng được lâu dài
-Giá tuyệt đối thì đắt
-Tản mạn thông tin
-Hỗn tạp |
|
Truyền thanh |
-Tuyển chọn được đích nhắm
-Giá rẻ
-Nhu nhuyễn
-Trực tiếp trò chuyện với khách
hàng
- |
-Không gây được ấn tượng
-Giới hạn trong vòng âm thanh
-Không tập trung sự chú ý của
người nghe
-Không được trọng
vọng. |
|
Ngoài trời
(Outdoor) |
-Khu vực rộng
-Thay đổi được nhiều lần
-Giá rẻ
-Phương tiện phụ đáng lưu ý
-Có tính địa
phương |
-Không được trọng vọng (nhưng có
thể cải tiến)
-Thời gian chế tác lâu la
-Khó đo lường hiệu
năng |
|
Giao thông |
-Độ lộ xuất lớn
-Giá thành rẻ
-Có tính địa
phương |
-Bao trùm phạm vi hẹp
-Đích nhắm (hành khách) mà thôi
-Hỗn tạp |
|
Trong tiệm (Indoor
POP) |
-Tập trung sự chú ý lớn
-Có tính thuyết phục
-Giá rẻ
-Nhu nhuyễn |
-Đích nhắm (khách đến tiệm) mà
thôi
-Dễ gây lẫn lộn
-Hỗn tạp |
Xuất xứ :
Baker, Monye, Sylvester, The Handbook of International
Marketing Communication, USA, 2000.
Đứng về mặt kinh
tế mà nói, quảng cáo lối nào mới có lợi? Shinya và nhóm
Sendenkaigi cho biết ở Nhật Bản, tổng số chi phí quảng cáo
trong năm 1999 được ước định là 5700 tỷ Yên, tương đương với
47 tỷ rưỡi đô-la Mỹ, mà trong đó tiền đổ vào 4 môi thể đại
chúng đã chiếm tới 64%.Bốn môi thể đại chúng hấp dẫn ở chỗ
là mỗi lần đưa một thông tin quảng cáo đến người nhận tin
(Audience), chủ quảng cáo chỉ trả một giá rất rẻ khi so sánh
việc sử dụng những môi thể khác (trừ những môi thể truyền
miệng). Người chủ quảng cáo Nhật chỉ tốn 0,5 Yên cho một lần
thông tin bằng thương điệp lẻ (sẽ giải thích sau) trên
truyền hình, 1,3 Yên nếu dùng thương điệp lồng (sẽ giải
thích sau) trong chương trình, 0,2 Yên nếu mượn làn sóng
truyền thanh và 1,6 Yên nếu đăng tải trên mặt báo, 2,7 Yên
nếu dùng tạp chí. Trong khi ấy, truyền đơn xen vào và phát
cùng một lượt với báo (Origami hay Leaflet) trung bình tốn
16 Yên và thư tín trực tiếp (Direct Mail, Postcard) tốn đến
104 Yên.
Ngoài sự cách biệt
về giá cả, còn có sự cách biệt về hiệu năng. Truyền hình
bằng sóng điện không những là môi thể ít tốn kém nhất mà còn
là môi thể có nhiều hiệu năng nhất trong việc thông tin và
thuyết phục khách hàng. Hãy thử so sánh thêm truyền hình với
các môi thể khác:
1. So sánh với
ấn phẩm
Nhật báo và tạp
chí là những ấn phẩm, có khả năng truyền đạt qua chữ viết và
hình ảnh. Phần chính yếu của ấn phẩm vẫn là ký sự bằng văn
tự, những hình ảnh tĩnh chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Truyền hình
thì khác: chủ yếu là hình ảnh động. Bao nhiêu thứ như chữ
viết, ngôn ngữ, âm nhạc, âm hưởng...bổ túc hiệu năng của
hình ảnh. Nhờ hình ảnh, truyền hình mang đến cho người xem
sự sống động, hiện thực của việc xảy ra trước mặt. Điều đó
không thể nào tái hiện được qua nhật báo hoặc tạp chí. Đối
với quảng cáo chủ (sponsor), truyền hình như đem thương phẩm
phô bày ra trước mắt khách hàng,
mục tiêu của thương điệp.
Điểm khác nhau thứ
hai giữa ấn phẩm và truyền hình là ấn phẩm có thể đem đi
theo trong xe, lên máy bay xem, giữ gìn lâu dài trong nhà,
trong thư viện, chuyền tay người này người kia xem. Thương
điệp qua truyền hình thoặt đến, thoặt đi, không giữ gì được
mà có giữ được thì cũng khá cầu kỳ, mất công.
2. So sánh với
phóng thanh
Ban đầu, phóng
thanh và truyền hình vẫn đi đôi với nhau. Hai môi thể có
nhiều điểm tương đồng như việc nghe và xem đều không phải bỏ
tiền ra, và nhiều nhà sản xuất thương điệp vừa làm ở đài
phát thanh lẫn đài truyền hình. Có thể xem
truyền hình như
cánh tay nối dài của phát thanh.
Tuy nhiên, người ta có thể nghe ra-di-ô khắp mọi nơi, trong
lúc đang lái xe, khi làm cơm và ngay cả khi dang ngủ. Ngược
lại, xem truyền hình dù có thể làm việc khác cùng lúc nhưng
điều đó đòi hỏi một sự tập trung tối thiếu cho nên nhiều
thương điệp, nếu phóng ra vào lúc người xem bận tay, thường
có khuynh hướng chú trọng vào lời nói hơn là hình ảnh.
Phát thanh và
truyền hình hay dùng thủ pháp "quảng cáo liên hợp"(IC hay
Integrated Commercial), trong đó nội dung
chương trình
thông tin hay giải trí nói chung và thương điệp quyện vào
nhauthành
một. Điều này không được cho phép trong trường hợp ấn phẩm
bởi vì trên mặt báo, quảng cáo và ký sự bắt buộc phải tách
riêng. Lý do đơn giản là nếu một ấn phẩm dùng lối quảng cáo
hội nhập như thế, môi thể ấn loát sẽ mất sự tín nhiệm của
độc giả. Khán thích giả truyền hình dễ dàng hơn về vấn đề
này, có lẽ vì trong suốt mấy ngàn năm, vài trò "văn kiện
chính thức" của chữ viết đã in dấu sâu đậm nơi người đọc.Hơn
nữa, ta khó lòng tưởng tượng có thể có chủ quảng cáo tham
gia vào việc soạn ký sự cho tờ báo hoặc tạp chí được. Việc
này xảy ra dễ dàng hơn đối với lời rao hàng trên làn sóng
phát thanh hoặc truyền hình.Dù sao, chúng ta thấy trong các
nuớc Âu Mỹ, người ta rất nhạy cảm về việc " đồng hóa quảng
cáo với ký sự " (publicité rédactionnelle(P)) vì họ nghĩ đó
là việc kém nghiêm túc nếu không nói là có dụng ý xấu vì đầu
óc khoa học (cartésien (P)) của họ muốn phân biệt " hư " và
" thực ". Nhật Bản dễ dãi hơn cho nên nhiều nhà nghiên cứu
phương Tây vẫn lên tiếng chỉ trích hiện tượng này.
Xem truyền hình
hay nghe phát thanh là một hành động có tính chất cá nhân
lẫn tập thể nhưng xem báo hay tạp chí hầu như là một hành
động đơn lẻ. Dĩ nhiên khi hành động đơn lẻ thì có độ chú ý
cao hơn. Riêng lúc xem báo cũng như nghe truyền thanh chỉ có
thị giác hoặc thính giác làm việc. Trong khi ấy, xem truyền
hình phải vận dụng cả hai giác quan nên khả năng thu nhận
tín hiệu tăng gấp bội. Lucas và Britt (Advertising
Psychology and Research, Nghiên Cứu Tâm Lý Quảng Cáo,1950)
cho biết là trước câu hỏi nếu chỉ có quyền giữ được một giác
quan mà thôi thì người ta sẽ phải giữ lại giác quan gì, phần
đông nguời được hỏi đều đáp sẽ chọn giữ lại thị giác đến
cuối. Hai nhà nghiên cứu trên đã dẫn lời phát biểu của nhà
tâm lý học Metfessel như sau " Tri thức mà một người bình
thường tiếp thu được có đến 65% qua đường thị giác, 25% bởi
thính giác và 10% còn lại bằng hoặc xúc giác, vị giác hay
khứu giác". Từ đó, họ đánh giá cao vai trò của môi thể
truyền hình vì nó có khả năng chuyển tín hiệu đến hai giác
quan mạnh nhất (thị, thính giác) cùng một lúc.
HL Hollingworth (The
Psychology of the Audience, Tâm Lý Khán Giả 1935) đã lập
đồ biểu như sau:
Đồ biểu 2.4:
Độ ghi nhớ tín hiệu theo giác quan thụ tín
|
|
|
|
Độ ghi nhớ (%)đo
ngay sau lúc tiếp tín hiệu |
Độ ghi nhớ (%) tàn
dư 3 hôm sau |
|
Chỉ sử dụng thính
giác |
71 |
10 |
|
Chỉ sử dụng thị
giác |
72 |
20 |
|
Sử dụng thị giác
lẫn thính giác |
86 |
65 |
Điều cần lưu ý là nghiên cứu của Hollingworth
chỉ dựa trên ảnh tĩnh, nếu dựa trên ảnh động thì hiệu quả
trên ký ức sẽ còn mạnh hơn nhiều. Nếu muốn so sánh để đánh
giá xem hình ảnh và âm thanh bên nào quan trọng hơn thì cứ
nhìn giá biểu tiền bồi hoàn trong trường hợp đài truyền hình
chạy không tốt khắc rõ. Nếu vì
có gì mà ảnh không
hiện ra, đài bồi thường cho người nhờ phóng ảnh 75% chi phí
bỏ ra, trong trường hợp màn ảnh câm, họ chỉ bồi thường có
25% mà thôi.
3. So sánh với
diễn kịch
Truyền hình sử dụng kịch trường chuyên dụng
(studio) để làm chỗ thu hình (thời sự, các chương trình âm
nhạc hay tiêu khiển, phim truyện, phim quảng cáo) và
thủ pháp truyền hình chứa đựng kịch tính.
Tuy vậy, sân khấu và truyền hình khác nhau ở chỗ người xem
kịch nhìn diễn viên sống động trước mắt mình và diễn viên
cũng giao cảm trực tiếp với khán giả (trường hợp khán giả
được mời đến tham dự những buổi thu hình không phải là không
có nhưng không thường xuyên và không khí những lúc đó cũng
không bình thường vì xen giữa diễn viên và khán giả còn có
bao nhiêu chuyên viên và máy móc di động không ngừng). Trong
khi đó, diễn viên truyền hình chỉ đối mặt với ống kính thu
hình và hệ thống ánh sáng mà người xem cũng chỉ thấy họ qua
màn ảnh. Khán giả kịch trường qui vào một nhóm nhỏ trong khi
khán giả truyền hình là đại chúng. Hành động của họ cũng
khác. Xem kịch, trừ trường hợp bất khả kháng, người ta chỉ
ngồi một chỗ, chăm chú xem, chán thì bỏ đi chứ không có gì
thay thế vào. Ngược lại, truyền hình cho phép người xem di
động thoải mái hơn và nếu không thích xem, có thể bấm nút
chọn đài khác và có thể bấm trở lại đài cũ. Người xem kịch
ngồi ở một vị trí cố định nhìn lên sân khấu theo một góc
cạnh tương xứng với số ghế họ ngồi. Khán giả truyền hình thì
được xem sự vật từ những góc cạnh khác nhau do khả năng di
động của ống kính thu hình. Câu chuyện diễn ra trên sân khấu
chỉ theo một lớp lang cố định vì mỗi màn phải được diễn ra ở
một không gian nào đó. Truyền hình đưa ta từ không gian này
đến không gian khác, thời điểm này đến thời diểm khác, cắt
xén câu chuyện theo một mạch lạc khác bằng thủ pháp điện ảnh
, điều mà trên sân khấu, đạo diễn và diễn viên không thể làm.
Ngoài ra, về cách diễn tả, trên sân khấu hay cường điệu,
khoa trương trong khi trong trường hợp truyền hình, động tác
diễn viên phải tự nhiên như người thật, việc thật. Người
đóng kịch mỗi lần lên sân khấu là một lần thắng phụ, không
được diễn sai hay nói hớ (dĩ nhiên có người nhắc tuồng
(prompter) nhưng sự hỗ trợ này chỉ đến một giới hạn nào đó).
Truyền hình có đủ thời giờ và phương tiện để giúp diễn viên
nói đúng câu đúng chữ. Đạo diễn cắt xén (cut) liền tay
đòi hỏi diễn viên
diễn đi diễn lại nhiều lần, chỉ lựa đoạn phim hoàn chỉnh
nhất đưa lên màn ảnh. Ngày nay, kỹ thuật đã đi đến chỗ tinh
vi, ta khó phân biệt được chương trình nào là thu hình trực
tiếp, chương trình nào là dàn dựng trong phim trường.
4. So sánh với
điện ảnh
Truyền hình giống
điện ảnh ở chỗ
truyền hình sử
dụng những phương pháp
thu hình, thu âm, chiếu sáng và tác động đặc biệt (special
effects)
của điện ảnh.
Lịch sử của truyền hình có thể xem như lịch sử điện ảnh nối
dài. Tuy nhiên, không vì thế mà ta bỏ qua những dị biệt giữa
hai bên.
Trước tiên, chất
lượng hình ảnh của truyền hình kém xa điện ảnh về độ rõ, về
độ tương phản, về độ tinh tế của màu sắc (điều này có thể
thay đổi nhờ hệ thống HDTV) . Màn ảnh của truyền hình cũng
bé hơn . Trong tương lai, với tiến bộ kỹ thuật, truyền hình
sẽ có màn ảnh đẹp, rõ, lớn hơn như loại gắn lên tường...
Hiện nay trung bình màn ảnh chỉ có đường chéo khoảng 21 inch
(21*2,54cm=53.34 cm). Sự kiện màn ảnh nhỏ thua màn ảnh rạp
chớp bóng có cái lợi là khiến cho người ta có tình cảm gần
gũi, gia đình đối với truyền hình hơn là với điện ảnh, nhất
là máy truyền hình đặt giữa phòng khách hay phòng ngủ, trong
khung cảnh tự nhiên, khác với phòng tối của rạp hát.
Một sự cách biệt
khác giữa hai bên là độ tiêu phí rất lớn của truyền hình. Ở
rạp chớp bóng, một ngày người ta có thể chiếu đi chiếu lại
một cuốn phim, nhưng trên màn ảnh truyền hình, dầu có sự
chiếu đi chiếu lại, phải luôn luôn thay đổi nội dung để
tránh sự nhằm chán. Người đến rạp xem phim bởi vì có chủ ý
đi xem cuốn phim đang chiếu, người xem truyền hình vì không
phải cất công đi, nên khó tính hơn khi phải xem mãi một cuộn
phim mình không còn thích thú. Năm 1951, theo Agnew và
O?Brien (Television Advertising, Quảng cáo truyền hình,
1958), cả Holywood trong một năm trời mới làm ra 432 cuộn
phim, nếu đem nó đưa cho một đài truyền hình chạy 16 tiếng
đồng hồ mỗi ngày thì chỉ trong vòng 36 hôm là đã cạn phim để
chiếu. Dĩ nhiên, ngoài phim truyện, Hollywood còn sản xuất
đủ loại phim (phim truyện chương hồi (series), phim ngắn từ
tài liệu đến hoạt hình...) nhưng cái "bao tử" truyền hình
thật khổng lồ, nhất là khi số đài tăng nhanh thì bao nhiêu
cũng không đủ.
Phim truyện thường
có tính cách giải trí nhưng để đi kèm với thương điệp quảng
cáo, chưa chắc đã hoàn toàn thích hợp. Ngoài tính cách tiêu
khiển (đã dành rất cần để lôi cuốn người xem), chủ quảng cáo
có khi đòi hỏi những chương trình truyền hình có tính cách
giáo dục để bổ sung vào điều mình muốn phát biểu (ví dụ
quảng cáo kem đánh răng đi kèm với chương trình y khoa nói
về những chứng bịnh do thiếu vệ sinh về răng mà sinh ra) bởi
vì nguyên tắc quảng cáo vốn dựa trên hai điểm then chốt: tri
thức và ký ức.
5. So sánh với
phim giáo dục
Giáo dục bằng phim
ảnh là phương pháp đã được dùng từ những năm hồi Đại Chiến
Thứ Hai trong lĩnh vực quân sự (phim huấn luyện = training
film) ở Mỹ và sau đó phổ biến trong hãng xưởng và trường học
(theo điều tra của Phillips Justin Rulon (1933, dẫn bởi
Agnew va O?Brien) trong việc dạy khoa học, dạy bằng phim
nâng thành tích sinh viên hơn 20,5% và nâng độ ký ức lên
38,5% ). Người xem phim giáo dục có một mục đích sẵn là tìm
hiểu cho nên phim giáo dục có thể mang lại cho họ sự thích
thú hơn là lời giảng khó khăn của một ông thầy. Tuy nhiên,
không phải phim giáo dục nào cũng lôi cuốn và phim giáo dục
thường dài, bắt người ta phải tập trung theo dõi. Truyền
hình gửi những thương điệp ngắn, không bắt ai theo dõi nhưng
nếu nó không được người ta thích thì thường bị coi là "phá
đám" vì đâm ngang một cuốn phim hay một chương trình khác mà
người xem coi nửa chừng.Phim giáo dục hơn được quảng cáo
truyền hình ở chỗ nó thiên về giải thích và một cuốn phim
giáo dục hay có thể đoán trước sự thắc mắc của người xem để
mà giải thích đó là chưa nói giáo viên hay người bán hàng
đứng bên cạnh cũng nhân tiện trả lời những câu hỏi của học
viên hoặc người mua hàng (talk-back circuits), vai trò mà
quảng cáo truyền hình, vì tính cách đại chúng, không thể đảm
nhiệm. Ngoài ra, việc dùng hình ảnh cụ thể còn có hiệu quả
đặc biệt trong việc giải thích những ý niệm trừu tượng, nó
giúp cho người ta hiểu rõ ra và nhớ lâu hơn (theo Walter
Lippmann).
Phim truyền hình khác với phim giáo dục là
thường do những nhân vật có tiếng tăm chủ diễn, nên có sự
hấp dẫn đặc biệt với người xem hơn là phim giáo dục. Những
nhân vật ấy, mà người
xem khó có dịp tiếp xúc ở ngoài đời, là đối
tuợng của sự khao khát và tin cậy của họ nên việc sử dụng
diễn viên có tiếng tăm rất cần thiết trong khi người diễn
xuất trong phim giáo dục chỉ là một nhà kỹ thuật có trình độ
cao, không hơn không kém
II. THÁI ĐỘ
CỦA QUẦN CHÚNG ĐỐI VỚI QUẢNG CÁO
Quảng cáo truyền
hình nói riêng và quảng cáo nói chung không thể thực hiện ở
chỗ không người. Vì thế sự đánh giá và phê bình của quần
chúng đối với quảng cáo là một điều cần lưu ý hết sức. Dù
lời phê bình có nghiêm khắc đến đâu đi nữa, nếu người làm
quảng cáo không lắng tai nghe thì e anh ta sẽ mất chỗ đứng
trong một thị trường mà sự cạnh tranh ngày càng găng.
Trong các nước Tây
Âu, quảng cáo là một công cụ không thể thiếu được trong việc
phát triển kinh tế, và do đó, nâng cao mức sống của người
dân. Bruce Barton của tập đoàn quảng cáo BBDO (Batten,
Barton, Durstine & Osborne) ví quảng cáo như mồi lửa đầu
tiên để châm ngòi cho bộ máy kinh tế có thể hoạt động. Nhờ
có quảng cáo, khách hàng mới biết đến sự tồn tại của sản
phẩm, đặc tính của chúng, những gì mới ra, những gì đã cũ,
cái nào đắt, cái nào rẻ, cái nào vừa tầm tay mình.Thế nhưng
người không thích quảng cáo cũng không phải ít, nhất là khi
quảng cáo bị lạm dụng. Quảng cáo còn bị xem như đánh lừa
người mua bằng những lời lẽ ngon ngọt và xâm lấn vào cuộc
sống, chiếm quá nhiều thời giờ của người ta. Trả lời câu hỏi
"Quảng cáo truyền hình có nhiều quá hay không ? " trong một
cuộc điều tra ở Mỹ (dẫn bởi Agnew và O?Brien), trên 450
người trách nhiệm trong ngành quảng cáo đã phát biểu như
sau:
-
Quá
nhiều ..............................59,5%
-
Không nhiều lắm.......................28,2%
-
Có
lẽ hơi nhiều.........................12,3%
Không những thế, nhiều người còn cho nội dung
quảng cáo là thiếu đạo đức, ấu trĩ, đơn điệu, coi thường
khán giả...Hiệp hội các hãng quảng cáo Mỹ (American
Association of Advertising Agencies, viết tắt là AAAA) trong
niên báo của hội cho biết là trong những vụ than phiền về
quảng cáo thì 2/3 là của độc giả đối với các ấn phẩm, 1/3 là
do khán thính giả
đối với truyền thanh truyền hình. Có đến 33,33% trách quảng
cáo đã đưa đến hiểu lầm, 25% đánh giá nó là rẻ tiền hoặc vô
nghĩa, phần còn lại cho là nó có khả năng tác hại.Tuy vậy,
theo hãng nghiên cứu Schwerin Research Corporation, trong
một nước theo chủ nghĩa cá nhân kiểu Tây Phương , mỗi người
một ý, một thương điệp làm vừa lòng có 40% số người xem thì
coi như đã thành công rồi. Không thể trách người quảng cáo
ngạo mạn được vì họ phải có sự tự hào về sản phẩm họ chế tạo
và bán ra, nhiều khi quá cuồng nhiệt nên bị người xem coi là
thiếu khiêm tốn. Hơn nữa, đối với người khách một khi đã
bằng lòng về sản phẩm quảng cáo thì cũng sẽ dễ dàng tha thứ
sự quá lố của nội dung thương điệp truyền đi.
1. Quảng cáo
truyền hình không phổ biến sự thật
Nếu muốn thành
công lâu dài đối với khách hàng, giới quảng cáo ngày nay đều
đồng ý là quảng cáo phải nói nên những điều lợi ích thực sự
của món hàng. Nếu dựng ra những điều lợi ích không có thật,
về lâu về dài chỉ gây thiệt thòi cho chính người quảng cáo.
Thế có nghĩa là thương điệp không được đưa ra những điều dối
trá hoặc thiếu đạo đức để có nâng cao giá trị mặt hàng.
Dù vậy, đánh giá
thế nào là giả dối hoặc ngay thật, đạo đức hay vô đạo đức
cũng không phải là chuyện dễ. Ai cũng biết chuyện hút thuốc,
uống rượu có tác hại cho sức khỏe...thế mà trong bao nhiêu
lâu, thiên hạ cứ hút, cứ uống. Như vậy có phải cấm việc
quảng cáo rượu và thuốc lá là đúng không? Ở Mỹ, năm 1952, Ủy
ban Mậu Dịch Liên Bang ( FTC = Federal Trade Commission)
đánh giá thuốc lá là dược phẩm và đặt nó trong phạm vi thụ
lý của qui chế y dược. Tòa án liên bang địa phương (Federal
District Court) ở New York, dựa trên định nghĩa của Luật về
Thực Phẩm và Dược Phẩm Tinh Khiết (Pure Food and Drug Act)
lại xem thuốc lá không phải là dược phẩm và hạ lệnh bãi bỏ
việc áp dụng qui chế dược phẩm đối với thuốc lá. Từ đó,
khuynh hướng cấm quảng cáo thuốc lá mới nắm ưu thế.
Ngay cả việc cho phép rao "hiệu quả đặc biệt"
của một số y dược phẩm cũng gây ra tranh luận. Người bán
thuốc đưa ra chứng cứ là thuốc chữa được bệnh, kẻ phản đối
bảo nó chỉ làm êm dịu cơn đau...Trước sự thể đó, giới thẩm
quyền và các đoàn thể quần chúng đã họp nhau lại và đòi hỏi
các hãng thuốc phải khiêm tốn và thận trọng hơn trong cách
rao hàng, nhất là trong lối quảng cáo truyền hình, vì khán
giả truyền hình ít
có cơ hội để phán
đoán chính xác nếu so sánh họ với độc giả một ấn phẩm vì
người ta thường thận trọng hơn khi in lời rao hàng trên giấy
trắng mực đen.
Chúng ta nghĩ thế
nào về những kiểu quảng cáo " gồng mình " của một chủ hãng
bột giặt khi anh ta bảo sản phẩm của anh tẩy sạch " tất cả "
mọi vết bẩn, là hiệu bột giặt " hạng nhất thế giới ". Nhiều
luật gia cho rằng không có chế tài nào chống lại những lời
khoác lác (puffery) không kiểm chứng được như thế và xem nó
chỉ nằm trong hình ảnh vốn có của một người thường khi họ
nghĩ về quảng cáo.
2. Quảng cáo
truyền hình có nội dung quá dung tục
Truyền hình là môi
thể gia đình cho nên việc theo dõi nội dung của truyền hình
được các nhà giáo dục coi là một điều quan trọng hàng đầu.
Người ta dể ý việc những hình ảnh có tính cách bạo lực, dữ
dội...trên truyền hình nhiều hơn là những hình ảnh tương
đương trên báo chí. Truyền hình tuy có đưa lên màn ảnh những
loại quảng cáo quần áo lót...v v..nhưng ít khi đả động trực
tiếp. Những hàng quảng cáo và người trách nhiệm đài truyền
hình thường lập ra những qui tắc quảng cáo và tự kiểm duyệt
để khỏi đưa ra những quảng cáo chối tai gai mắt. Tuy vậy,
không phải lúc nào họ cũng chú ý vào việc đó một cách hoàn
hảo cho nên trên truyền hình vẫn nhan nhãn những hình ảnh
dung tục.
3. Quảng cáo
truyền hình gây bực dọc khó chịu
" Quảng cáo truyền hình cứ lặp đi lặp lại,
nhàm chán, nhiều khi gây bực mình, làm khán thính giả hết
chịu đựng nổi ". Đó cũng là một ý kiến thường thấy nơi quần
chúng. Họ đòi hỏi thương điệp phải mới mẻ, tươi mát và không
đơn điệu.Tuy nhiên, đổi mới nội dung một thương điệp một là
gây tốn kém, hai là sự lặp đi lặp lại xưa nay vẫn là nguyên
tắc tăng tác dụng quảng cáo nên không thể thay đổi nó một
sớm một chiều được. Oái oăm là những người tỏ ra khó chịu vì
sự lặp đi lặp lại một thương điệp của món hàng nào đó nhiều
khi lại chạy đi mua món hàng đó trước tiên vì đã nhập tâm
lời rao hàng. Đó là một khía cạnh đặc biệt của tâm lý người
tiêu thụ và vì lẽ ấy, các chủ quảng cáo không có cách nào
khác hơn là cho lặp đi lặp lại thương điệp. Dĩ nhiên đối với
chủ quảng cáo, nếu điều kiện cho phép, người nào cũng muốn
đưa ra một thương điệp được quần chúng yêu thích. Và một
thương điệp được
yêu thích tất có khả năng tự nhiên làm tăng doanh số cho
quảng cáo chủ hơn là một thương điệp đem đến bực mình. Lịch
sử quảng cáo truyền hình hãy còn quá trẻ để giải quyết vấn
đề này. Đây là một lĩnh vực mà các nhà sáng tạo phim truyền
hình còn có thể khai phá trong tương lai.
4. Phản ánh của
khán thính giả đến người quảng cáo
Người làm quảng
cáo rất nhạy cảm đối với ý kiến của khán thính giả phản ánh
việc họ làm. Tuy nhiên, trong số người xem quảng cáo, người
bằng lòng ít khi biểu lộ, chỉ có những ai bất bình mới gửi
thư hoặc điện thoại đến trách cứ về nội dung hoặc hình thức
của quảng cáo thương mại mà họ bắt gặp trên màn ảnh nhỏ. Dù
thế nào, người quảng cáo cũng phải biết hoan nghênh những
lời chỉ trích đến từ khán thính giả vì thà để họ chỉ trích
còn hơn là họ lẳng lặng không đếm xỉa gì tới thương điệp và
cũng chẳng cất công đi mua món hàng được quảng cáo. Trong
nhiều nước phương Tây và Nhật Bản, các tổ chức chuyên môn và
báo chí thường hay treo giải thưởng đánh giá những tác phẩm
quảng cáo có chất lượng cao để khuyến khích các nhà sáng tạo
đi xa hơn trong việc tìm tòi và sáng tạo của họ. Nó còn nhắc
nhở người làm quảng cáo trách nhiệm xã hội cũng như đánh giá
tính cách công ích (public interest) việc làm của họ.
5. Quảng cáo
truyền hình làm hư trẻ con
Quảng cáo truyền
hình tác hại đối với trẻ con vì nó phô trương những sản phẩm
tiêu thụ mà trẻ con dễ bị lôi cuốn, nhất là vì chúng quá non
nớt để có thể chống lại những phương pháp chiêu hàng tinh vi
của nhà quảng cáo. Ngoài ra quảng cáo gây nên sự đối lập
giữa trẻ con và người lớn (child-parent conflict). Cha mẹ
bắt buộc phải ngăn chặn, cấm cản con, và như thế tạo ra căng
thẳng.
Những đoàn thể gây áp lực như phong trào Đấu
Tranh Cải Thiện Truyền Hình Thiếu Nhi (Action for Children?s
Television) đã thúc đẩy việc Quốc Hội Mỹ chuẩn y đạo luật về
Truyền Hình cho Thiếu Nhi (Children?s Television Act, 1990),
trong đó, người ta đã giới hạn thời giờ quảng cảo của những
chương trình truyền hình cho trẻ em dưới 10 phút rưỡi vào
ngày trong tuần và 12 phút vào ngày cuối tuần. Tổ chức của
Mỹ như Hội Đồng Cải Thiện Thương Nghiệp (Council of Better
Business ) đã thiết lập Ủy Ban Giám Sát Quảng Cáo Truyền
Hình cho
Thiếu Nhi (Children?s
Advertising Review Unit) có nhiệm vụ soạn thảo một tập sách
hướng dẫn người làm quảng cáo cho trẻ em. Các môi thể cũng
tự soạn ra đề cương riêng cho mình như chặt chẽ hơn trong
việc dùng diễn viên nổi tiếng trong việc quảng cáo và giới
hạn 1/3 việc dùng phim hoạt họa trong toàn bộ thời gian phim
quảng cáo.
6. Quảng cáo mời
mọc những của độc
Người ta vẫn thường trách cứ quảng cáo giúp
phổ biến những của độc như rượu, thuốc lá, súng ống, cờ bạc,
xổ số...Nhưng nếu vẫn cho phép bán thuốc, bán rượu ngoài phố
thì kết án một mình quảng cáo thì hơi nghịch lý hoặc nguy
thiện.
III. NHỮNG
TRỌNG ĐIỂM TÂM LÝ KHÁCH HÀNG MÀ QUẢNG CÁO MỜI MỌC
Mục đích của quảng
cáo là mời khách mua hàng (nghĩa là mua một sự thỏa mãn)
nhưng để đạt được điều đó, không chỉ đưa ra những ưu điểm
của món hàng là đủ. Phải biết tâm lý khách hàng, nắm được
những động cơ và tìm hiểu được thái độ của họ.
Động cơ (motive)
nghĩa là những yếu tố thúc đẩy hành động nhằm chiếm hữu và
sử dụng món hàng. Nó rất phức tạp không những vì đó là những
yếu tố chủ quan và nhiều khi nằm ở tiềm thức hay vô thức.Có
những động cơ tích cực nhưng lại có những động cơ tiêu cực,
ngăn chặn hành động mua. Bên cạnh động cơ kinh tế (lợi ích
tiền bạc), động cơ vị kỷ (lợi ích sinh tồn như bảo vệ sức
khỏe, vệ sinh, an ninh, tiết kiệm năng lực, tăng khoái lạc,
thèm quyền lực, chinh phục, thỏa mãn tình dục), còn có động
cơ vị tha (thân ái, che chở, tận tụy) cho dầu sự vị tha có
thể xuất phát cả từ lòng ...vị kỷ.
Thái độ (Attitude)
là một trạng thái tinh thần trước một món hàng. Thái độ là
sự kết hợp nhiều động cơ, tình động, cảm giác và thông
tin.Nó có tính cách cá nhân, thầm kín nhưng quyết định đến
cách ứng xử (mua hay không) của cá nhân trước món hàng. Nếu
xếp loại các thái độ, ta thấy có thái độ tích cực (tìm hiểu,
thông cảm), trung lập (không hay biết, vô thưởng vô phạt),
tiêu cực (thành kiến), quyết định (hành động mua hàng hay
không) hay thuyết phục (đưa tin, mách nước
người khác).
Quan sát động cơ
tâm lý khách hàng để có thể hướng dẫn họ đến chỗ có một thái
độ tích cực, các nhà quảng cáo thường đặt trọng tâm vào 10
điểm sau đây:
1. Thèm ăn thèm
uống
2.
Thích luyến ái thơ mộng.
3.
Yêu dáng vẻ xinh đẹp.
4.
Muốn mạnh khỏe, không gặp cảnh nguy khốn.
5.
Yêu mến trẻ con.
6.
Thích xã giao, đua đòi.
7.
Thích trội hơn người khác.
8.
Thích du hí, giải trí.
9.
Thích tiện lợi, khoái chí.
10.
Thích sở hữu hay tiết kiệm tiền bạc của cải.
Khợi gợi sở thích
không có nghĩa chỉ nhằm một sở thích duy nhất nhưng thường
nhấn mạnh về một sở thích nào đó, đồng thời không quên những
sở thích phụ thuộc khác. Trong trường hợp khách hàng sống
trong một xã hội đầy đủ sung mãn thì khái niệm "đói khát "
không còn có nghĩa gì với họ, muốn khơi gợi sự thèm muốn về
một thứ thực phẩm nào đó thì nhà quảng cáo phải tìm cách lôi
cuốn họ bằng cái "ngon miệng" của thức ăn đó.
Trên vô tuyến
truyền hình, khơi gợi
cái thèm ăn thèm
uốngcủa
con người là một thủ pháp thường được các nhà quảng cáo sử
dụng (nhất là số lượng thương điệp quảng cáo đồ ăn đồ uống
vốn chiếm vị trí quan trọng nhất ở mỗi nơi trên thế giới).
Trong trường hợp này, quảng cáo vừa đưa ra hình ảnh lúc
người ta ăn uống lẫn cảnh lúc họ đang sửa soạn món ăn và lúc
người ta đã ăn xong (nhiều ý kiến cho rằng chiếu cảnh thỏa
mãn sau khi ăn uống thường bị phản tác dụng vì lúc đó nhu
cầu đã đạt được, người xem không còn cảm thấy thèm thuồng
món hàng nữa). Ngoài cái "ngon", cái "bổ", cái "rẻ", cái "tiện",
cái "vui"...là những trọng điểm tâm lý khác mà người quảng
cáo gợi ra cho khách hàng để họ gắn bó thêm với thương phẩm.
Khỏi cần phải nói,
tình cảm luyến ái thơ mộng
được coi như một động cơ để xui khách hướng
về món hàng. Một người trình bày món hàng (diễn viên, ca
sĩ...) được khán giả yêu thích có thể chuyển sự yêu thích
đối với cá nhân họ đến sự yêu thích món hàng.Chỉ riêng sự
hiện
diện của diễn viên
mà khách yêu thích trong thương điệp đã quá đủ dể gây sự lôi
cuốn. Nếu không, người ta có thể dùng thủ pháp "trước và sau
khi dùng": nhân vật trong quảng cáo trước khi có món hàng
thì khó ở, sự dùng nó xong thì thoải mái, vui vẻ...Tóm lại,
nhờ có thuơng phẩm mà mọi sự được kết thúc một cách êm đẹp
(happy end) cho nên người ta đâm ra thích thương phẩm vì nó
đã dẹp được cho họ nỗi bực mình nào đó.
Sự yêu thích
dáng vẻ xinh đẹp
cũng có thể dẫn đến tình cảm luyến ái thơ mộng như khi một
thương điệp về thuốc gội đầu hay quần áo sử dụng vẻ đẹp của
thân thể phụ nữ để quảng cáo. Trong trường hợp này, người
làm quảng cáo cần phải chú ý đến sự nhạy cảm của người xem
vì tùy theo văn hóa và qui phạm đạo đức mỗi xã hội, nó có
thể được định nghĩa một khác nhau.Còn về tâm lý
giữ
gìn sức khỏe,
trình bày hình ảnh thương tật hay bệnh hoạn trên màn ảnh nhỏ
cũng phải làm sao cho được tinh tế để khỏi gây xúc động cho
khán thính giả (răng sâu, tiêu chảy, khuyết tật) đó là chưa
nói đến những hạn chế của luật pháp đặc biệt đối với quảng
cáo dược phẩm.Tình
cảm đối với trẻ con
được khai thác để bán hàng cho người lớn, cụ thể là những
món hàng như bảo hiểm xe cộ (đặt trọng tâm vào việc an toàn
cho trẻ con), đồ chơi và quà bánh (sinh nhật, lễ tết, ngày
tốt nghiệp của con cái).Trẻ con thường được đưa lên màn ảnh
và có tính thuyết phục đối với khách hàng vì sự thơ ngây, dễ
thương của chúng.
Tính
thích xã giao, đua đòi
cũng được khai thác trong thương điệp. Con
người vốn thích chưng diện xe cộ, đồ trang sức như đá quí,
vòng xuyến...những gì khiến cho kẻ khác phái thèm thuồng
hoặc trầm trồ kinh ngạc. Nó cũng nằm trên một quĩ đạo với
một thứ tình cảm thường thấy ở nơi con người: muốn mình vượt
trên người khác Lối mời gọi nhủ "Sao bạn vẫn chưa có trong
khi ai cũng có rồi!" đánh vào lòng hư vinh của con người,
muốn tranh ganh với kẻ khác. Những tình cảm như
thích du hí, thích tiện lợi, thích khỏe thân
là cái đích cho sự kích thích trong những thương điệp nói về
các loại máy móc dùng trong nhà như máy điều hòa không khí,
máy giặt, máy rửa bát, bàn tủ giường ghế, thuốc cạo râu...Tình
cảm
thích giữ của, tránh lãng phíđược
khơi gợi trong các thương điệp nói về hạ giá, trúng số (mua
một biếu một), (xe hơi) ít uống xăng, (máy móc) ít tốn điện...để
lôi cuốn người mua.
1. Đích nhắm
của quảng cáo : Tình cảm hay lý trí con người ?
Tình cảm và lý trí
con người đều là động cơ hành động tiêu thụ. Có người nghĩ
lý trí của mình điều khiển hành động tiêu thụ nhưng thực sự
là nhiều khi tình cảm của anh ta đóng vai trò chủ chốt trong
việc này mà chính anh ta cũng không biết. Nhưng thương điệp
quảng cáo mỹ phẩm chẳng hạn thường dùng lời
tiếp cận tình
cảm
vì một khi đã muốn đẹp, muốn sang, người ta thường gạt lý
trí qua một bên trong việc đánh giá một mặt hàng. Việc sử
dụng một diễn viên được khán giả yêu thích để giới thiệu sản
phẩm là lối tiếp cận tình cảm.Trong khi ấy, các thương phẩm
như xe hơi, máy giặt, máy sấy khô quần áo, tủ lạnh vv...
thường dùng lời
tiếp cận lý trí,
một phần vì giá cả đơn vị của nó khá cao, bắt buộc người
tiêu thụ phải suy đi tính lại, phần khác vì đặc tính của máy
móc là chỉ được nhận chân qua lý luận khoa học và thử nghiệm.
Hiện nay, một
quảng cáo muốn thành công thường dùng cả hai phương thức
tiếp cận. Chiếu lên màn ảnh một khung cảnh thơ mộng (núi non
sông hồ) chẳng hạn, sau đó đưa ra mấy lời giải thích cụ thể
về sản phẩm (máy xe chạy êm ái, xe ít uống xăng...) rồi lại
đóng ngoặc thương điệp trong một hình ảnh thơ mộng, thoải
mái (thiếu nữ tươi tắn ngồi bên cạnh người lái)...tượng
trưng cho lối
tiếp cận tổng hợp
này. Bí quyết của thành công là biết đo liều lượng của lời
giải thích khoa học để nó khỏi tiêu diệt cái không khí tình
cảm, và biết thu vén cái không khí tình cảm để nó không tạo
ra mâu thuẫn với lời giải thích đầy tính cách kỹ thuật kia.
|