|
Vai
trò quảng cáo trong thời buổi kinh tế thị trường |
Ngày nay, mỗi khi
có dịp ghé ngang những thành phố xưa kia phong kín và nghiêm
khắc như Thượng Hải, Phnom Penh hoặc Warsaw, ta thấy hình
ảnh quảng cáo đầy khắp đường phố, trên bảng hiệu, trên tường,
trên xe điện, trên bìa tạp chí, bằng tranh vẽ, bằng đèn màu.
Tất cả như thể những tín hiệu tượng trưng cho đổi mới, cho
phát triển kinh tế.
Thật vậy, trong những thập niên gần đây, quảng cáo
không những đã triển khai theo chiều rộng mà cả chiều sâu.
Nói đến chiều rộng của nó, ta thấy quảng cáo có mặt khắp
chốn, từ những quốc gia có truyền thống tư bản đến những nền
kinh tế theo khuynh hướng xã hội một khi đã chọn sự cạnh
tranh thương nghiệp làm động lực kích thích kinh tế. Về bề
sâu, quảng cáo không những đã làm biến dạng những mô thức
sinh hoạt của người tiêu thụ mà còn thay đổi tư duy, ảnh
hưởng sâu sắc đến văn hóa của mọi lớp người trong xã hội.
Nếu muốn thêm vào một chiều thứ ba nữa, chiều phát
triển kỹ thuật, thì quảng cáo từ những phương tiện thô sơ
như lời đồn đại, tin tức truyền miệng giữa bạn bè, lời dẫn
giải của người bán hàng đến các hình thức khác như tặng quà,
phát giải, xổ số, yết thị, bích chương... đã tận dụng sức
mạnh của năm môi thể truyền thông đại chúng ( nhật báo, tạp
chí, truyền thanh, truyền hình, điện ảnh) trước khi tiến về
phía những phương tiện truyền thông tối tân đa môi thể
(Multi Media), truyền thông vệ tinh (Broadcasting Satellite)
và thông tin trên mạng (Net). Như thế, truyền thông tiếp thị
bao gồm ba hình thức thông tin chủ yếu:
- truyền thông cá nhân (individual
communication)
- truyền thông giữa cá nhân (interpersonal
communication)
- truyền thông đại chúng (mass communication)
Đọc một trang báo hay xem một tiết mục truyền hình ta
có thông tin cá nhân. Những thông tin này không những được
cảm nhận qua thị giác (perceptual screening) mà phải được
thông hiểu và ghi nhớ nhờ có sự lập đi lập lại (repetition)
và sức khơi gợi (appeal) sự chú ý của ta. Loại thông tin
giữa cá nhân là mách nước (word to mouth) giữa bạn bè, lời
đồn đại hay thuyết minh của người chào hàng.Thông tin đại
chúng có phạm vi hoạt động rộng lớn hơn nhờ kỹ thuật quảng
bá của những môi thể truyền thông đại chúng (mass media).
Khoa học tiếp thị (Marketing) mới ra đời cách đây vừa
đúng 100 năm (1900) trong điều kiện đặc biệt của nước Mỹ mà
quảng cáo là một vũ khí không thể thiếu được của người làm
tiếp thị miền Đông Hoa Kỳ khi muốn tiếp cận khách hàng Viễn
Tây. Vũ khí ấy thật ra đã có mặt trên trái đất từ nhiều năm
trước khi những môn khoa học gọi là tiếp thị (Marketing) và
truyền thông tiếp thị (Marketing Communication) thành hình.
Quảng cáo còn tăng hiệu lực gấp bội khi được sử dụng hiệp
đồng đúng liều lượng cùng với những yếu tố khác như khả năng
phân tích và đánh giá thị trường, khả năng quản lý và phân
phối thương phẩm trong một chiến lược gọi là "tiếp thị hỗn
hợp" (Marketing Mix), thuật ngữ được nhà kinh tế học Mỹ Neil
H. Borden, dùng lần đầu tiên.
Quảng cáo hiện đại chỉ phát triển mạnh trong những
quốc gia tiên tiến từ đầu thế kỷ trong đó có Nhật Bản và
theo K.Hattori (1996) , ta có thể phân chia lịch sử của tiếp
thị cũng như quảng cáo thương mại qua ví dụ Nhật Bản. Ở Nhật
trong thế kỷ 20 , có 4 thời kỳ tiếp thị qua bốn cao điểm (trong
ngoặc) như sau
1. Thời kỳ có người mua
mà thiếu hàng (1910-1945)
2. Thời
kỳ bán cho bằng được hàng mình chế tạo (1945-1970)
3. Thời
kỳ chế tạo theo sở thích khách hàng (1970-1990)
4. Thời
kỳ cùng nhau đi tìm những giá trị mới (từ 1990)
Tiếp thị cũng như quảng cáo, vũ khí của nó, không
đóng vai trò đáng kể trong một nền kinh tế chỉ huy hay trong
tình trạng hàng hóa thiếu thốn. Bởi vì bao nhiêu hàng vừa
làm ra đã có người mua ngay nên người ta không phải rao hàng.
Kịp đến khi hàng hóa được sản xuất hàng loạt, người sản xuất
thúc bách thiên hạ mua mặt hàng mình chế tạo (sales push).
Lúc nhu cầu tiêu thụ đã tới mức bão hòa, người ta mới bắt
đầu đi tìm hiểu những món hàng nào cần thiết đối với người
mua để mà sản xuất cho xứng ý họ (marketing pull) và hoạch
định chiến lược để vượt qua những khó khăn của một thời đại
người khôn, của khó. Cuối cùng, người chế tạo cũng như nhà
quảng cáo phải đi tìm những giá trị mới trong một thời đại
mà thị trường không những chia thành từng mảnh (segments) mà
còn phân tán mỏng đến mức độ cá nhân.
I.
QUẢNG CÁO LÀ GÌ ?
Chúng ta biết rằng trong thời đại toàn cầu hóa như
ngày nay, thị trường vừa đi về tiêu chuẩn hóa
(standardization), lại vừa đi đa dạng hóa (diversification).
Cạnh tranh càng ngày càng gay cấn và người cạnh tranh có khi
vô hình vô ảnh như trong điện thương (E-Commerce) nên sự cá
biệt hóa mặt hàng (differentiation) càng ngày càng đóng vai
trò quan trọng và nhiệm vụ của quảng cáo phức tạp và khó
khăn ra. Nhưng trước hết, quảng cáo là gì?
Thật ra, hành động có tính quảng cáo đã có từ rất sớm
trong lịch sử loài người dù nó chỉ xuất hiện dưới những dạng
thô sơ và ở khắp hình thái xã hội đến nỗi tính phổ quát của
nó đã được nhà quảng cáo Pháp Robert Guérin thậm xưng: "Khí
trời gồm có dưỡng khí, khí ni-tơ và...quảng cáo". Guérin hẳn
muốn nói về " quảng cáo thương mại " (CM = Commercial
Message) vì hãy còn nhiều loại quảng cáo khác không thuộc
vào chủ đề của quyển sách này (thuật giả muốn nói đến quảng
cáo công ích (PSA = Public Service Advertising), quảng báo
hay giao tế giữa xí nghiệp với bên ngoài (PRA=Public
Relations Advertising) chẳng hạn). Người ta còn ví quảng cáo
như luồng gió thổi cho máy xay gió kinh tế chạy được hoặc,
văn vẻ hơn, là đóa hoa của thời đại vv...nữa.
Định nghĩa ngắn gọn và thực tế nhất có thể là "tất cả
những phương tiện thông tin và thuyết phục quần chúng mua
một món hàng hay một dịch vụ" (Robert Leduc) cho dù Leduc đã
bỏ qua hay để hiểu ngầm về những cơ năng tăng cường của
quảng cáo như sáng tạo (création), duy trì (retention) và
biến đổi (conversion) (P) hoàn cảnh kinh doanh, trong đó
ngoài đối tượng khách hàng và mục đích bán hàng, hay còn
nhiều đối tượng và mục đích khác.
Ta có thể mượn lời của Hiệp Hội Tiếp Thị Hoa Kỳ AMA
(American Marketing Association) để định nghĩa quảng cáo như
sau:
1. Quảng
cáo là một hoạt động tốn tiền (paid form)
2. Dựa
vào môi thể, không dựa vào con người (non personal)
3. Để
loan báo, chào mời về một ý kiến, sản phẩm hay dịch vụ
(goods / servives).
4. Do
một người cậy quảng cáo có danh tánh rõ ràng (identified
sponsor).
Với thời
gian, ta thấy định nghĩa của AMA hãy có những chỗ cần bổ
sung. Nội dung quảng cáo thương mại ngày nay đề cập tới
những chủ đề có tính công ích, người làm quảng cáo nhiều khi
làm việc không lấy tiền công cho những loại quảng cáo cho
lợi ích tập thể. Và các loại quảng cáo của xí nghiệp không
chỉ lo ca ngợi thương phẩm của mình mà còn đưa ra chủ trương
triết lý của hãng, quảng cáo cho hình ảnh xí nghiệp (CI hay
Corporate Identity). Không chỉ giới thiệu món hàng để mời
mọc (buy me) mà còn giới thiệu lập trường của mình để được
mọi người yêu nể (love me) nữa.
Vềđặc
tính của quảng cáo, R. Leduc xem nó trước hết là một yếu tố
của truyền thông, có mặt khắp nơi, được sử dụng lập đi lập
lại, phục vụ một mục đích rõ ràng, không bắt người xem phải
trả tiền. Nó còn là một thứ thông tin thiên vị và cục bộ vì
để bán được hàng, nó (hầu như ) chỉ trưng những gì hay đẹp
của món hàng mà thôi. Quảng cáo tuy được nhiều hình thức
truyền thông khác (qua truyền miệng và ý kiến của người
hướng dẫn dư luận) hỗ trợ và nối dài nhưng lại bị giới hạn
trongkhông gian và thời gian vì khả năng của những đường
giây nó sử dụng (giờ phát sóng, tiền chi phí) cũng như sự
quên lãng của độc giả hay khán thính giả, đối tượng của
quảng cáo.
Vào năm
1961, nhà tư vấn kinh doanh Mỹ Russell H. Colley đã đưa ra
lý luận DAGMAR ( Defined Advertising Goals for Measured
Advertising Results = Thiết định mục tiêu quảng cáo để đo
lường hiệu quả của quảng cáo) mà ta có trình bày quá trình
đạt đến mục tiêu của nó như sau:
- Biết
đến (Awareness)
- Hiểu
rõ (Comprehension)
- Tin
chắc (Conviction)
- Hành
động (Action)
Theo đó,
người ta sẽ tính độ nhận thức (ví dụ 30%), độ thông hiểu (ví
dụ 15%), độ xác tín (ví dụ 8%) và độ hành động (ví dụ 3%),
những số liệu cơ bản để tính điểm (benchmark) quảng cáo. Ở
Mỹ còn có mô hình truyền thông gọi là AIDA (Attention-
Interest- Desire-Action, có nghĩa là Chú YÙ - Quan Tâm - Ham
Muốn - Hành Động). Những loại hình này đặt trọng tâm vào
tính hợp lý của quá trình dẫn đến hành động mua. Tuy nhiên,
ta cũng thấy có những ngoại lệ như kiểu mua vì bốc đồng
(impulse purchase), nặng về tình cảm hơn, nôm na gọi là "thích
thì mua".
II.
VAI TRÒ CỦA QUẢNG CÁO TRONG THÔNG TIN TIẾP THỊ
Quảng
cáo là một phần của chiến thuật phối hợp 4Ptrong tiếp thị
(Product, Price, Place (Distribution), Promotion) nghĩa là "bộ
tứ" thương phẩm, giá cả, phân phối, khuyến mãi. Khuyến mãi
(Promotion) ở đây hiểu theo nghĩa rộng, tập hợp của bốn hoạt
động ( bao gồm Advertising hay quảng cáo , Sales Promotion
hay khuyến mãi theo nghĩa hẹp, Public Relations hay ngoại
giao xí nghiệp , Salesmanship tức chào hàng ) mà ta sẽ phân
tích kỹ ở phần sau. Quảng cáo trong thời đại cạnh tranh chỉ
có hiệu lực khi người làm tiếp thị đã thành công trong chiến
lược 4P của họ (Probing, Partitioning, Prioritying,
Positioning) nghĩa là các hoạt động bắt đầu từ việc điều tra
tường tận thị trường
Probing), chia cắt nó thành phân tiết (Partitioning, còn gọi
là Segmentation) để có thể tập hợp lực lượng tiến công, chọn
mảng thị trường ưu tiên (Prioritying, còn gọi là Targeting)
theo chỉ tiêu của hãng và khi điều kiện khách quan cho phép,
để cuối cùng định vị trí và điều chỉnh vị trí (Positioning
cũng như Repositioning nếu cần thiết) dành được ưu thế của
mặt hàng của mình đối với các mặt hàng khác và những đối thủ
cạnh tranh trong điều kiện của thị trường đó .
Đồ biểu
1.1 : Vị trí của quảng cáo trong quá trình tiếp thị hiện đại
|
|
|
Giai Đoạn |
1) Sứ Mệnh |
2) Mục Đích |
3) Chiến Lược |
4) Chiến Thuật |
5) Thực Hiện |
6) Kiểm Soát |
|
Nội Dung |
Xác định văn hóa xí nghiệp,
lý tưởng của xí nghiệp |
Định mục đích là thu lợi
nhuận hay chiếm thị phần |
a) Điều Tra
b) Tế Phân Thị Trường
c) Chọn Đích Ngắm
d) Định Vị Trí |
a) Thương Phẩm
b) Giá Cả
c)Phân Phối
d)Quảng Cáo (kể cả truyền hình) |
Chấp Hành |
Kiểm tra và sửa chữa nếu
cần thiết |
Xuất xứ: Theo Hattori
Kiyoshi (trong Kokoku Zuno, 1996)
Quảng cáo được bàn đến trong
tập sách nhỏ này, như định nghĩa kể trên, chỉ là quảng cáo
thương mại trước khi đóng khung trong quảng cáo thương mại
truyền hình. Để vấn đề được triển khai rõ hơn, chúng ta hãy
thử so sánh đặc điểm của quảng cáo nói chung và quảng cáo
thương mại nói riêng qua hai đồ biểu sau đây của K.
Kajiyama.(sdd)
Đồ biểu 1.3: Đặc trưng của khái niệm
quảng cáo
|
|
|
|
Nguồn thông tin |
Nội dung |
Đối tượng |
Mục đích |
Chi phí |
Phương tiện đề xuất |
|
Quảng Cáo
(Advertising) |
Đích xác |
Vật dụng,
Dịch vụ,
Khái niệm |
Khu vực rộng lớn |
Thương nghiệp và
Xã hội |
Có chi phí |
Môi thể truyền thông |
|
Giao Tế Xí Nghiệp (Public
Relations) |
Đích xác lẫn không đích xác |
Vật dụng,
Dịch vụ,
Khái niệm |
Khu vực rộng lớn hoặc giới
hạn |
Xã hội và
Thương nghiệp |
Có và không có chi phí |
Môi thể truyền thông và con
người |
|
Tuyên Truyền
(Propaganda) |
Đích xác lẫn không đích xác |
Khái niệm |
Khu vực rộng lớn hoặc giới
hạn |
Chính trị và Xã hội |
Có và không có chi phí |
Môi thể truyền thông và con
người |
|
Khuyến Mãi (theo nghĩa hẹp)
(Promotion) |
Đích xác |
Vật dụng,
dịch vụ |
Khu vực giới hạn |
Thương nghiệp |
Có chi phí |
Môi thể truyền thông và con
người |
Đồ biểu 1.4: Phân loại quảng cáo theo
mục đích
|
|
|
|
Quảng cáo thương nghiệp
(Commercial Advertising) |
Quảng cáo phi doanh lợi
(Non profit Adverising) |
|
|
Trọng tâm là khách hàng
(Consumer Advertising):
-Mạng toàn quốc (National Advertising)
-Mạng địa phương (Local Advertising)
-Quảng cáo nhu yếu phẩm (Primary Demand
Advertising)
-Quảng cáo mặt hàng có tiếng (Selective Demand
Advertising) |
Quảng cáo lợi ích công cộng
(Public Service Advertising) |
|
|
Trọng tâm là đồng nghiệp
(Business-to -business advertising) :
-Quảng cáo kỹ nghệ (Industrial Advertising)
-Quảng cáo hình ảnh xí nghiệp (Corporate
Identity Advertising)
-Quảng cáo hệ thống phân phối (Trade
Advertising)
-Quảng cáo chuyên môn (Professional Advertising)
-Linh tinh (ví dụ giao tế bán hàng Public
Relations Advertising) |
-Quảng cáo chính trị (bầu
cử vv...) (Political Advertising)
-Quảng cáo định chế Institutional Advertising) |
|
|
|
Quảng cáo ý kiến hay tín
điều, chủ trương luận thuyết (Cause
Advertising), luận chiến (Controversy
Advertising), biện cải (Advocacy Advertising)
hay đặt vấn đề (Issue Advertising) |
|
|
|
Các hình thức quảng cáo
khác |
Theo Từ Điển Bách Khoa Vương Quốc Anh
(Encyclopedia Britanica), 1000 năm trước Công Nguyên, ở vùng
đồng bằng Mesopotamia, khu vực Lưỡng Hà, đã có bảng quảng
cáo bằng đất nung đặt tiền thưởng cho ai tìm
được một nô lệ bỏ trốn. Ở Á Châu, Trung Hoa dường như đã
biết đến quảng cáo từ thời Tây Chu ( thế kỷ 11 đến 771 trước
Công Nguyên) qua những hội chợ đầu tiên (Hong Cheng, trong
Jones, J.Ph, 2000). Hàn Phi Tử (280-233 trước CN) đã nói đến
lá tửu kỳ chiêu khách của một anh hàng rượu nước Tống đời
Xuân Thu Chiến Quốc. Buồn cười là chữ "Publicité" trong
tiếng Pháp, ngày nay có nghĩa là Quảng Cáo ( khác với chữ
Publicity trong tiếng Anh có nghĩa là Quảng Báo, gần với
Public Relations hơn là Advertising), vốn có nghĩa "là một
tội trạng có nhiều người chứng kiến". Người Pháp tin rằng
nhà triết học kiêm luận thuyết gia Michel de Montaigne là
cha đẻ của ngành quảng cáo ở Pháp vì ông đã đề cập đến nó
trong tập luận thuyết "Essaies" (1580) của ông. Dù sao, mãi
40 năm sau, quảng cáo mới lên khuôn trên tờ La Gazette
(1631) của nhà báo Théophraste Renaudot. Ở Anh, quảng cáo
(Advertising) đã xuất hiện lần đầu tiên ngày 26/05/1657,
thông báo cho mọi người hiệu quả của cà phê mà thời ấy người
ta tin là linh dược trị bá chứng.
Quảng
cáo đã trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng trong nền
kinh tế thị trường. Lịch sử của quảng cáo hiện đại Âu Mỹ
dính liền với những nhân tố như sự thành hình của hệ thống
kinh tế tư bản, cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ (1750 ở Anh), sự hưng
thịnh của những phương tiện truyền thông đại chúng (khởi
thủy của nó là phát minh về điện tín năm 1844). Các tác giả
như O?Guinn chia quảng cáo ở Mỹ ra làm nhiều thời kỳ :
-Thời
tiền kỹ nghệ (trước 1800) quảng cáo xuất hiện trên các tập
thông tin (newsbook) tiền thân của nhật báo. Quảng cáo thời
đó mới là phương tiện rao vặt và còn chưa dính líu nhiều đến
thương phẩm.
-Thời kỹ
nghệ hóa (1800-1875) quảng cáo được đăng trên nhật báo
(dailies). Quảng cáo có mục đích nới rộng thị trường do hiện
tượng tăng gia dân số và đô thị hóa. Hãng quảng cáo đầu tiên
(Volney Palmer) ra đời ở Philadelphia.
-Thời
kinh tế tiêu thụ (1875-1918) khi cơ cấu của ngành quảng cáo
được thành lập (với các hãng quảng cáo, các nhà doanh nghiệp
quảng cáo mà phần lớn xuất thân từ đám con cái các nhà
truyền giáo, cũng như các kỹ thuật gia quảng cáo) và là thời
điểm đạo luật qui định về thương phẩm lành mạnh (Pure Food
and Drug Act, 1906) ra đời.
-Thời
kinh tế hưởng thụ tiền khủng hoảng (1818-1929) từ khi khoa
học kỹ thuật phát triển mạnh và sản phẩm đa dạng hóa. Quảng
cáo nghiêng về mỹ thuật, thời trang.
-Thời
khủng hoảng kinh tế (1929-1941), quảng cáo trở thành đối
tượng của mọi dè bĩu và phản ánh mối lo âu của những người
sống trong một nền kinh tế đang lâm nguy.
- Thời
thế chiến thứ hai và thập kỷ 50 (1941-1960) quảng cáo trước
tiên phục vụ cho nền kinh tế chiến tranh, sau đó phụng sự
kinh tế tiêu thụ hậu chiến. Cùng với nhạc Rock, văn hóa tuổi
trẻ (Youth Culture) và sự công khai hóa thị hiếu tính dục.
Vô tuyến truyền hình đã ra đời vào thời điểm này.
- Thời ý
thức về hòa bình, tình yêu và sáng tạo (1960-1972) nước Mỹ
náo động vì phong trào đòi quyền sống của người da đen và
phong trào chống chiến tranh của Mỹ ở VN. Quảng cáo bước vào
thời sáng tạo và ý thức về vai trò " văn hóa " của mình.
-Những năm 70 : thời của vô độ và ích kỷ.
Cùng lúc, phong trào đòi kiềm chế những quá lố của quảng cáo
và bảo vệ người tiêu thụ được phát triển mạnh mẽ (với sự ra
đời của nhóm ATC (Tranh Đấu Cải Thiện Truyền Hình Cho Thiếu
Nhi hay Action for Children?s Television) và sự thành lập
FTC (Ủy Ban Bảo Vệ Tự Do Mậu Dịch hay Free Trade Commission)
và NARB (Hội Đồng Quốc Gia Kiểm Sát Quảng Cáo hay National
Advertising Review Board). Những năm 70 cũng
chứng kiến sự phát triển của các phương tiện truyền thông
mới như máy thu hình bằng băng từ VTR (Video Tape Recorder),
CATV (Cable Television hay Truyền Hình Bằng Mạng Giây Cáp),
đĩa la-de (Laser Disc...).
-Những
năm đảng Cộng Hòa cầm quyền (1980-1992) thời chính trị bảo
thủ, quảng cáo phản ánh ý thức hệ của chính quyền Reagan và
Bush Sr. Đây là thời của Informercial (Information
+Commercial, tạm gọi là thương báo) , bởi vì quảng cáo được
trình bày trong giờ tin tức thời sự với chủ tâm tận dụng
những khâu giờ phát sóng ít tốn tiền.
-Thời
hiện tại (1993 cho đến nay): những phương tiện truyền thông
mới (New Media) và các mạng toàn cầu (World Wide Web) với
khả năng giao lưu hỗ tương (interactive) của nó nối được con
người và môi thể (medium) đã làm thay đổi bộ mặt của các cơ
quan truyền thông. Đây cũng là một thách thức của hình thức
quảng cáo mới, năng động, tương phản với hình thức quảng cáo
đơn phương (con người thụ động trước máy) của quảng cáo
truyền hình.
Nhật Bản
tự hào vì đã biết đến quảng cáo từ trước thời Nara (710-794)
khi họ dùng những tấm bảng hiệu bằng gỗ để yết thị ngoài chợ
(764). Theo T. Yamaki, Hiraga Gennai (1728-1779) đã viết văn
quảng cáo cho quán bán thịt lươn và bột thuốc đánh răng
trước cả những nhà viết quảng cáo Âu Mỹ như Honoré de Balzac
(Pháp), Bret Harte (Mỹ) hay Samuel Sheperd (Mỹ). Nhưng dù
sao, vẫn theo T. Yamaki, phải đợi đến năm 1861, dưới thời
Minh Trị Duy Tân, ở Nhật mới có quảng cáo trên tờ báo (tiếng
Anh) Japan Herald. Khoảng 1946-59, quảng cáo truyền thanh và
truyền hình nối tiếp nhau ra đời. Thế Vận Hội Tokyo (1964)
đánh dấu bước tiến vọt của kinh tế Nhật và từ thời điểm đó,
họ đã dần dần làm quen với những phương tiện truyền thông
mới. Ngày nay, tuy Internet không phải là điểm mạnh của họ
vì nhiều lý do trong đó có lý do ngôn ngữ, Nhật vẫn là một
nước mà việc buôn bán trực tiếp trên mạng được phổ cập khá
nhanh chóng.
Xã hội
chúng ta đang sống là xã hội thông tin cao độ. Lịch sử kinh
tế nhân loại bắt đầu bằng thời đại nhặt nhạnh và săn bắn
trước khi phát hiện ra được khả năng sinh thực của đất đai
hoa màu. Sau khi kinh tế nông nghiệp suy thoái rõ ràng từ
khoảng năm 1900, xã hội hiện đại thông qua thời đại kinh tế
kỹ nghệ (kéo đến 1960) để bước dần vào thời đại của thông
tin (kể từ 1940) và dịch vụ (kể từ 1965) (F. Balle trích dẫn
M.Porat và A.Moles). Phải hiểu chữ " thông tin " ở đây với
nghĩa rộng là thông tintrí tuệ (knowledge) chứ không phải là
thông tin thời sự (news). Những phương tiện truyền thông đại
chúng và truyền thông cá nhân giúp trực tiếp cho hoạt động
thông tin phát triển, gián tiếp thúc đẩy sự giao lưu kinh tế,
văn hóa, xã hội, giữa người và người.
Nguyên lai, nghiên cứu về truyền thông đại
chúng nằm giữa biên giới của hai khoa tâm lý và xã hội học.
Từ năm 1939 đã có Tchakhotine đặt vấn đề về tuyên truyền
chính trị, sau đó, vào năm 1947, Shannon và Weaver đề nghị
mô hình truyền thông (sẽ được kể tiếp bởi Schramm) dựa trên
nghiên cứu về truyền thông qua điện thoại. Sau đó đến nhà xã
hội học Harold D. Laswell với lập luận nổi tiếng về truyền
thông : " ai nói cái gì cho ai bằng phương tiện nào và đạt
được hiệu quả ra sao ". Phần đông chúng ta chắc không xa lạ
gì với mô hình truyền thông đại chúng do Wibur Schramm đề
nghị trong tác phẩm nổi tiếng " Quá Trình và Hiệu Năng của
Truyền Thông Đại Chúng "(The Process and Effects of Mass
Communication), ra đời cách đây gần nửa thế kỷ (1955).
Schramm đã đưa ra 3 mô hình từ đơn giản đến phức tạp mà tiến
trình của luồng thông tin trong quá trình phức tạp
nhất của bộ ba đó có thể diễn dịch là đã tuần
tự chuyển biến qua các giai đoạn như sau trong trường hợp
một thông điệp quảng cáo :
1 Nguồn
tin (Source) bắt nguồn từ người muốn thông báo
(Communicator)
2 Hệ
thống thu tín hiệu (Encoder) và những đường giây (Channels)
tiếp nhận : ví dụ người bán hàng nhận chỉ thị và tin tức,
máy thu hình, máy ghi âm, vệ tinh nhận tín hiệu.
3 Thông
điệp (Message) được tín hiệu hóa (Signalized)
4 Hệ
thống giải tín hiệu (Decorder): Đường giây (Channels) giải
mã tín hiệu: như khi người bán hàng giải thích, truyền hình
phát ảnh, đài truyền thanh phát thanh, màn ảnh xi nê chiếu
phim, vệ tinh phát sóng.
5 Đích
nhắm (Destination) là người nhận tin (Receptor) hay khán
thính giả (Audience).
6 Hiệu
quả (Effects) của thông tin như thế nào khi nó châm ngược
trở lại (Feedback) phía người thông báo: phản ứng tiêu cực
hay tích cực, chấm dứt hay nối thêm quá trình.
Chúng ta
nhận thấy có sự trùng hợp giữa mô hình truyền thông của
Schramm (1955) và mô hình thông tin tiếp thị của Kotler (gồm
bốn chủ thể : Người thông báo, Thông điệp, Môi thể chuyển
vận, Người nhận tin, 1988) . Trong cả hai mô hình, điều quan
trọng là trong thông tin trước hết phải có sẳn những điểm
tương đồng giữa người thông báo và người nhận tin. Đó là sự
thông hiểu (Literacy) của người nhận tin cho phép người
thông báo khơi gợi được một nhu cầu hay thông báo điều mình
muốn nói đến người nhận. .
Khái
niệm về đường giây truyền tin (Channels) bao gồm máy móc và
con người. Người xem phim quảng cáo có thể truyền đạt thông
tin cho bạn bè, đồng nghiệp (thông tin truyền miệng hay
words to mouth web), nhất là khi anh ta đóng vai người dẫn
đầu dư luận (opinion leader). Điểm thứ hai là đường dây có
thể làm méo mó, lệch lạc (distortion) khiến cho sự tiếp nhận
thương điệp chỉ có tính cách phiến diện (selective
perception, retention).Tin tức đến người nhận thường bị
nhiễu (parasite) thành ra không còn chính xác, bị thanh lọc
vì những bức chắn (screen) hay bị xáo trộn bởi những yếu tố
ngoài bản ý của người đưa tin như sự lệch lạc do tin đồn
(rumor), hiểu lầm (misunderstanding), hiểu sót. Đó là chưa
kể những bóp méo vì điều kiện đặc biệt của môi thể ( lối
hành văn, khuôn khổ giờ phát sóng, phẩm chất hình ảnh, màu
sắc). Đúng như Mc Luhan đã bình luận: "Môi thể là một cọ xát
"( Le médium, c'est le massage).
Do đó,
sự lựa chọn và đặt kế hoạch cho đường giâyhay môi thể truyền
thông (media-planning) là điều thiết yếu của người làm quảng
cáo, chưa kể đến những nhân tố có tính cách chất lượng như
uy tín của nguồn tin (source credibility) hay có tính cách
kinh tế như sự hợp lý hóa chi phí để đạt hiệu năng tối ưu,
những điều mà ta không thể bỏ qua.
Các phương tiện truyền thông được đặt trong
bối cảnh kinh tế xí nghiệp cho nên nó phải tuân theo những
định luật chi phối một tổ chức kinh tế, trong đó có nguồn
tài chánh để vận hành hoạt động kinh tế. Chúng ta biết tài
nguyên của báo chí dựa một phần trên tiền bán báo, truyền
thanh và truyền hình dựa một phần vào tiền đóng góp của khán
thính giả cũng như sự trợ giúp của nhà nước nhưng tài nguyên
đó không đáng kể bên cạnh tài nguyên đến từ đầu tư quảng cáo.
Gọi nó là đầu tư vì quảng cáo có tính chất gầy dựng một hình
ảnh tốt đẹp cho một thương phẩm (Brand Equity) hay một xí
nghiệp (Corporate Identity) và xí nghiệp sẽ thu lượm thành
quả mà hình ảnh đó đem tới. Vì lẽ đó, nhiều nhà lý luận
không đồng ý gọi suông tiền dùng vào việc quảng cáo là chi
phí nghĩa là dùng xong mất đi. Tiền quảng cáo chiếm một tỉ
lệ lớn trong tổng sản lượng quốc gia (GNP hay Gross National
Product)): trong năm 1997, nó chiếm 0,67% GNP của Pháp,
0,71% của
Âu Châu và 1,12% của Mỹ.
Theo
F.Balle (dẫn nguồn AACC), số tiền đầu tư vào quảng cáo trên
thế giới trong năm 1996 có thể được so sánh theo những tỷ lệ
sau đây.
Đồ biểu
1.5: Đầu tư vào quảng cáo các môi thể lớn trên thế giới năm
1996 (%)
|
|
|
Quốc Gia |
Báo chí |
Truyền hình |
Truyền thanh |
Bích chương |
Điện ảnh |
|
Đức |
68,1 |
23,4 |
4,0 |
3,5 |
1,0 |
|
Áo |
59,3 |
23,0 |
10,7 |
7,0 |
- |
|
Bỉ |
41,5 |
35,9 |
9,0 |
12,1 |
1,5 |
|
Đan mạch |
68,1 |
23,4 |
4,0 |
3,5 |
1,0 |
|
Tây ban nha |
47,1 |
37,7 |
9,8 |
4,6 |
0,8 |
|
Phần lan |
72,3 |
20,9 |
3,5 |
3,2 |
0,1 |
|
Pháp |
47,3 |
33,5 |
7,0 |
11,6 |
0,6 |
|
Anh |
55,3 |
35,7 |
3,7 |
4,6 |
0,8 |
|
Hy lạp |
35,4 |
50,0 |
7,4 |
7,3 |
- |
|
Ai-lan |
62,3 |
24,4 |
7,4 |
5,0 |
0,8 |
|
Ý |
37,4 |
53,8 |
4,4 |
4,0 |
0,3 |
|
Na uy |
56,2 |
34,2 |
6,1 |
2,6 |
0,9 |
|
Hòa lan |
72,9 |
18,0 |
5,0 |
3,7 |
0,4 |
|
Bồ đào nha |
24,9 |
58,2 |
7,6 |
9,3 |
- |
|
Thụy điển |
74,2 |
18,2 |
2,4 |
4,5 |
0,7 |
|
Thụy sĩ |
73,5 |
9,4 |
2,8 |
13,3 |
1,1 |
|
Thổ nhĩ kỳ |
48,1 |
39,1 |
3,0 |
6,0 |
3,8 |
|
Hoa kỳ |
45,8 |
41,0 |
11,9 |
1,3 |
- |
|
Nhật Bản |
37,7 |
43,9 |
5,0 |
13,4 |
- |
(Xuất
xứ: Francis Balle, Médias et Sociétés, Paris, 1999)
Phần của
quảng cáo truyền hình hãy còn thấp so sánh với quảng cáo
trên báo chí ngoại trừ một số nước như Hy lạp, Ý, Bồ Đào Nha
và Nhật bản. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khuynh
hướng chung là sự suy giảm của doanh số quảng cáo trên báo
chí. Ví dụ của Pháp cho ta thấy điều đó. Vào khoảng năm
1970, tỷ lệ quảng cáo trên mặt báo ở Pháp lên đến 70% nhưng
nó đã tụt xuống còn 60% (1980) rồi dưới mức 50% vào năm 1993
(47,3% trong năm 1996). Trong khi đó, nhờ sự tự do hóa những
phương diện thính thị về mặt qui chế (bởi vì qui chế truyền
hình gắt gao hơn là qui chế báo chí) , quảng cáo truyền hình
từ 15% (1980) đã chiếm hữu 34% thị trường vào năm 1998.
Có một
tương quan gần gũi giữa quảng cáo và kinh tế. Cứ y như rằng
những năm kinh tế suy thoái hay trì trệ, đầu tư vào quảng
cáo cũng suy giảm theo cùng một nhịp điệu. Thử lấy ví dụ của
Nhật Bản. Ở quốc gia này, nếu lấy chỉ số về thành trưởng
kinh tế và chi tiêu cho quảng cáo cả hai là 100 cho năm
1985, thì năm 1997, chỉ số phát triển kinh tế là 159 trong
khi chỉ số về tăng gia chi tiêu cho quảng cáo là 171. Người
ta nhận thấy hai sự tăng trưởng đi song song với nhau và cả
hai đều thụt lùi như nhau vào những năm 1992 và 1993, thời
mà kinh tế Nhật "vỡ bong bóng" (collapse of economic bubble)
.
Hãy thử
xem sau đây bảng đối chiếu số tiền bỏ ra chi tiêu cho quảng
cáo vào năm 1990 trong mười quốc gia để tâm nhiều nhất vào
việc quảng cáo (theo Bạch Thư của cơ quan nghiên cứu Nikkei,
1993). Điều đáng chú ý là Mỹ và Tây Ban Nha tiêu nhiều nhất
so với mức tăng trưởng của tổng sản lượng quốc gia (2,4%)
trong khi Thụy Sĩ (612,6 đô la ) là nước vượt cả Mỹ (512,6
đô la / một năm) về tiền chi tiêu cho quảng cáo tính trên
đầu người.
Đồ biểu
1.6 : Chi tiêu về quảng cáo của 10 nước trên thế giới trong
năm 1990 (đơn vị : triệu đô-la) và trên đầu người (đơn vị:
đô la)
Xuất xứ:
Bạch Thư Nikkei, Tokyo, 1993
Chúng ta
biết rằng để bán được món hàng, xí nghiệp sử dụng nhiều
phương thức truyền thông để ra mắt khách hàng và những
phương tiện đó được mở rộng và tăng cường cùng với thời gian
và những biến chuyển của xã hội. Quảng cáo chỉ là một trong
những hoạt động đó. Không những người bán hàng phải đưa món
hàng đến tay người mua mà còn phải đưa người mua đến với món
hàng. Không những quảng cáo trong ngắn hạn mà còn phải quảng
cáo về lâu về dài. Không chỉ chú ý đến vai trò thương mại
của xí nghiệp mà cả đến chức năng xã hội của nó nữa.
Theo
R.Leduc , chức năng xã hội của xí nghiệp khiến nó phải đạt
được sự giao cảm giữa những định chế xã hội(communication
institutionnelle (P)) với nhau (ý kiến chung của những định
chế ấy tạo thành dư luận). Những định chế ấy là đại chúng (
người ngoài phố) nghĩa là quần chúng khônglà đích nhắm
(public cible (P)) của quảng cáo, quầnchúng bàng hệ (chức
sắc, nhà cầm quyền địa phương), giới cung cấp nguyên vật
liệu hay thương phẩm, khách hàng, đoàn thể người tiêu thụ,
nhân viên của hãng, những người dẫn đầu dư luận (opinion
leader) như nhà báo, nhà giáo và các viên chức ngành nghề.
Những hoạt động nhằm đạt được sự cảm thông và đồng tình đó
gọi là quảng báo hay giao tế xí nghiệp (relation publique
hay PR =Public Relations). Gần gũi với quảng báo là quảng
cáo định chế (publicité institutionnelle (P)) như trường hợp
những phim tài liệu, những bài báo (publicité redactionnelle),
(P) biện hộ, thông báo cho một hãng buôn, một đoàn thể xã
hội hoặc thương phẩm dưới trách nhiệm của những định chế
truyền thông (nhật báo, hãng truyền hình) chứ không phải của
chính xí nghiệp.
Chức năng thương mại của xí nghiệp đòi hỏi nó
phải sử dụng những thủ pháp khuyến mãi ngoài quảng
cáo.Khuyến mãi (Sales Promotion) mới được sử dụng có qui cũ
từ những năm 1960, có mục đích ngắn hạn (vì dùng dài hạn sẽ
rất tốn kém mà lại nhàm đi). Nó có thể nhắm người bên ngoài
(Outer Promotion) hãng như người khách mua (Consumer
Promotion) (hạ giá, xổ số, tặng quà),. Nó có nhắm người cộng
tác (Inner Promotion) như người bán sỉ (Trade Promotion) (bằng
cách chia lời), người làm công (Employee) (tăng lương, đặt
tiền thưởng), cửa hàng (Point Of Sales Promotion) (chỉ cách
trình bày món hàng bán, cố vấn về mặt hàng). Sau đó mới đến
quảng cáo (Advertising) bằng những môi thể truyền thông hoặc
cá nhân hoặc đại chúng mà chúng ta sẽ phân biệt rõ ràng hơn
trong chương kế tiếp
|